Một Hội Thư Viện Cho Việt Nam?
Lâm Vĩnh Thế
Trưởng Ban biên mục ĐH Saskatchewan CANADA
Ban Tin Dien Tu - Cau Lac Bo Thu Vien - so
3-2001
http://www-lib.hcmuns.edu.vn/clb/bt2001/btdt3_2001.htm#hoithu
Việt
Nam hiện có một đội ngũ chuyên viên thư viện đầy nhiệt tình công tác trong một
hệ thống thư viện khá hoàn thiện. Sự kiện Việt Nam không có mội hội thư viện
cho cả nước là một điều không bình thường. Bài viết này cổ vũ cho việc thành
lập một hội thư viện cho Việt Nam. Phần thứ nhất của bài viết nhằm trả lời câu
hỏi: hội thư viện quốc gia có vai trò gì? Nhiều thí dụ từ các nước đã phát
triển cũng như các nước đang phát triển được nêu ra để chứng minh các giá trị
của một hội thư viện quốc gia. Phần thứ nhì của bài viết nhằm trả lời câu hỏi
thứ hai: tại sao Việt Nam cần phải có một hội thư viện Quốc gia ngay bây giờ?
Luận cứ chính của tác giả là các nhu cầu cấp thiết mà tiến trình tiêu chuẩn hóa
và việc cải tổ chương trình giảng dạy thư viện họcđang đặt ra cho cộng đồng thư
viện Việt Nam.
(Nguyên tác bằng Anh ngữ, "A Nationnal Library Association for Vietnam", đã đăng trong tạp chí New Library World (Anh Quốc), vol. 102, no. 1166/1167 (July 2001), tr. 278-282.)
Hiện
nay trên thế giới có ít nhất là 77 hội thư viện quốc gia (không kể các hội thư
viện quốc gia chuyên ngành, như y khoa, luật, vv.), kể cả các nước sau đây
trong vùng Đông Nam Á: Cam-pu-chia, In-đô-nê-xia, Mã-Lai-Á, Myanmar (Miến
Điện), Phi-Luật-Tân, Tân-Gia-Ba, và Thái Lan (IFLA Directory, 2000-2001, 2000).
Do đó sự kiện Việt Nam, một nước trong vùng Đông Nam Á, không có một hội thư
viện quốc gia là một điều không bình thường (trước đây tại Miền Nam Việt Nam đã
từng có một Hội Thư Viện Việt Nam, nhưng hội đoàn này đã không còn nữa sau khi
đất nước thống nhất vào năm 1975), đặc biệt nếu ta xét đến số lượng rất đáng kể
của chuyên viên thư viện và thông tin đang công tác trong cả nước hiện nay.
Cách đây năm năm người ta đã ước tính là đã có trên 22.000 nhân viên và chuyên
viên thư viện tại Việt Nam (UNESCO, 1995). Tổ chức hiện hữu mang tên là Hội Đồng
Thư Viện, tuy quan trọng về phương diện quy định chính sách và phương hướng,
không thể thay thế được cho một hội đoàn chuyên môn về thư viện. Các chuyên
viên thư viện Việt Nam, sau khi đã chứng minh sự đóng góp quan trọng của mình
trong việc phát triển đất nước trong thời hậu chiến (1975-2000), bây giờ cần
phải thuyết phục chính phủ cho phép
thành
lập một hội thư viện cho cả nước. Ý kiến về một hội thư viện quốc gia lần đầu
tiên được chính thức nêu ra trong một cuộc hội thảo tại Thư Viện Khoa Học Tổng
Hợp TP. HCM vào ngày 09/04/1998 và được báo cáo trong Bản tin điện tử hàng
tháng của của Thư Viện Cao học Trường Đại học Khoa Khoa Học Tự Nhiên TP. HCM
như sau:
"...
Điều này càng khẳng định vai trò lãnh đạo của hội thư viện, do đó yêu cầu
đặt ra chính là sự ra đời của Hội Thư Viện" (Tin trong tháng...,
1998). Bảy tháng sau, Câu Lạc Bộ Thư Viện được thành lập vào ngày 11/1998 tại
Thư viện Cao học với 31 hội viên. Gần đây, trong Bản tin Câu Lạc Bộ, số tháng
3/2001, người ta lại thấy giấc mơ đó được nhắc lại: "Thành lập Hội Thư
Viện Việt Nam là niềm mơ ước của toàn thể những người đang làm công tác thông
tin thư viện hiện nay." (Lá thư Câu lạc bộ thư viện..., 2001). Giấc mơ
này không phải là "chuyện không thể có được" vì chính phủ Việt
Nam đã đồng ý cho phép thành lập một hội đoàn chuyên môn tương tự: Hội Thông
Tin Tư Liệu Khoa học và Công Nghệ Việt Nam đã được thành lập do Quyết định của
chính phủ số 04/2000/QĐ-BTCCP ngày 27/01/2000. Bài viết này cố gắng trả lời hai
câu hỏi cơ bản sau đây:
1.Hội thư viện quốc gia có vai trò gì?;
2.Tại sao chúng ta cần có một hội thư viện
quốc gia cho Việt Nam ngay bây giờ?
Hội thư viện quốc gia có vai trò gì?
Các
hội đoàn chuyên môn là: "groups of people who consider themselves to be
engaged in the same sort of work; whose identity is drawn from the work; [and]
who share with one another a set of values, norms and perspectives = những nhóm người tự xem như tham gia vào
cùng một loại hình công tác giống nhau, được nhận diện từ công tác này, và cùng
chia sẻ với nhau một hệ thống giá trị, quy luật và quan điểm." (Van
Maanen và Bailey, 1984, tr. 287). Qua cố gắng chung trên cơ sở đồng thuận, họ
có khả năng tạo ra cho các thành viên một môi trường làm việc xác định bởi các
điều sau đây "a unified culture for the profession, the
institutionalization of professional codes of conduct, establishment of
educational and performance standards, and the diffusion and incorporation of
change and innovation within the profession = một nét văn hóa thống nhất cho
nghề nghiệp, việc định chế hóa luật lệ về tác phong chuyên môn, việc thiết lập
các tiêu chuẩn về đào tạo và công tác, và việc phổ biến và đưa vào nghề nghiệp
các thay đổi và
đổi
mới." (Hovekamp, 1997, tr. 234).
Cũng
như các hội đoàn chuyên môn khác, các hội thư viện đã từng là phương tiện để
thống nhất nghề nghiệp và cải thiện các tiêu chuẩn về đào tạo và công tác cho
các thành viên. Mục tiêu đầu tiên của một hội thư viện quốc gia là nâng cao
công tác thư viện và dịch vụ thư viện trong nước đó. Cả hai hội thư viện quốc
gia của Canada (Canadian Library Association -- CLA) và Hoa Kỳ (American
Library Association -- ALA) điều ghi rõ mục tiêu này trong hiến chương của hội.
Điều 2 hiến chương của ALA ghi như sau: "The object of the American
Library Association shall be to promote library services and librarianship =
Mụục tiêu của Hội Thư Viện Hoa Kỳ là nâng cao dịch vụ thư viện và ngành công
tác thư viện." (American Library Association, Trang nhà). Điều 2 của
hiến chương của CLA cũng tương tự: "The Association shall exist to
develop high standards of librarianship and library and information services =
Hội hiện hữu để phát triển những tiêu chuẩn cao cho ngành công tác thư viện
cũng như cho các dịch vụ thư viện và thông tin." (Canadian Library
Association, Trang nhà).
Nói
cách khác, cần phải có một hội thư viện quốc gia để có thể thực hiện hai điều
sau đây:
1.Nâng cao căn bản kiến thức cho ngành công
tác thư viện
2.Cải thiện công tác của các hội viên.
Do đó
hai giá trị căn bản của một hội thư viện quốc gia có thể mang đến cho ngành
công tác thư viện là:
1.Khuyến khích và hỗ trợ các nghiên cứu nhằm
tăng cường cơ sở lý thuyết và kiến thức cho công tác thư viện.
2.Khuyến khích và hỗ trợ cho việc phát triển
chuyên môn cho các cán bộ thư viện.
Về
nghiên cứu, tại Hoa Kỳ hiện nay, tất cả các phân hội (divisions) của ALA đều hỗ
trợ các hoạt động nghiên cứu hoặc xuyên qua một ủy ban hoặc một chương trình
cấp giải thưởng hoặc qua việc xuất bản một tạp chí. Bên cạnh các hoạt động vừa
kể của các phân hội, ALA còn có cả một ủy ban thường trực và một văn phòng phụ
trách về nghiên cứu đó là: Về mặt phát triển chuyên môn Research and Statistics
Committee = Ủy Ban Nghiên Cứu và thống kêê, và, Office for Research and
Statistics = Phòng Nghiên Cứu và Thống Kê. Về mặt phát triển chuyên môn, các
hội viên có thể vào trang nhà của ALA và tìm thấy tất cả các loại hình phát
triển chuyên môn như là hội nghị hàng năm, hội nghị của các phân hội, hội nghị
của các chi hội, các chương trình huấn luyện, hội thảo, .v.v. (Fisher, 1997).
Từ cuối thập niên 1970, giáo dục thường xuyên (continuing education) đã được
ALA phần nào xem là ưu tiên sau khi ALA Council chấp thuận phát biểu sau đây
xem là chính sách: "The aim of the Association in this area [i.e.
continuing education] is to develop a planned program for ensuring that the
knowledge, skills and attitudes of persons involved with library service are
adequate to meet the challenges of social change, provide leadership for the
constant improvement of library theory and practice, and to fulfill individual
aspirations for growth = Mụục tiêu của Hội trong lĩnh vực này [nghĩa là giáo
dụục thường xuyên] là phát triển một chương trình có quy hoạch để bảo đảm rằng
kiến thức, kỹ năng và tác phong của những người công tác trong ngành thư viện
được đầy đủ để cho họ có thể đáp ứng được những thử thách do những thay đổi của
xã hội đem lại, có thể lãnh đạo trong việc liên tục cải thiện cả lý thuyết lẫn
thực hành về thư viện, và có thể đáp ứng được các ước vọng thăng tiến về nghề
nghiệp của từng cá nhân." (Stone, 1986, tr. 502).
Mô
thức đóng góp cho nghề nghiệp cũng như cho các hội viên ALA cũng được tìm thấy
tại các nước đang phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực đào tạo hoặc huấn
luyện. Tại Phi Châu, "the Kenya Library Association succeeded in
putting up a regular certificate course at Kenyan Polytechnic in 1979 = Hội Thư
Viện Kenya đã thành công trong việc thiết lập được một chương trình huấn luyện
thường xuyên có cấp chứng chỉ tại Viện Kỹ Thuật Kenya vào năm 1979."
(Gupta và Gupta, 1997, tr. 104). Tại Nigeria, là quốc gia đã bắt đầu có chương
trình huấn luyện về thư viện từ năm 1959 và cũng là quốc gia Phi Châu duy nhất
có chương trình tiến sĩ về thư viện học tại Đại học Ibadan, Hội thư viện
Nigeria còn có tiếng nói mạnh hơn nữa và một vai trò quan trọng hơn nhiều trong
lĩnh vực huấn luyện và đào tạo về thư viện cho cả nước. Hội đã đứng ra tổ chức
một Hội Thảo về Giáo Dục Thư Viện tại Nigeria vào năm 1974 (Fayose, 1997).
Tại
Châu Á, Hội thư Viện Bangladesh (Library Association of Bangladesh -- LAB),
thành lập từ năm 1956, hiện có khoảng 1.500 hội viên, có thể là một hội thư
viện kiểu mẫu cho các nước đang phát triển. LAB hiện có những hoạt động thường
xuyên như sau: tổ chức hội nghị hàng năm, xuất bản bán-niên-san The Eastern
Librarian, cung cấp và cổ súy các phương tiện về huấn luyện và khảo cứu. Đặc
biệt, LAB hoạt động rất tích cực nhằm đáp ứng các nhu cầu giáo dục căn bản và
thường xuyên của các cán bộ thư viện Bangladesh xuyên qua các chương trình huấn
luyện chính quy cũng như qua các chương trình hội thảo, hội nghị. Viện Huấn
Luyện Thư Viện (Library Training Institute) tại Dakha, do LAB bảo trợ, có những
chương trình huấn luyện như sau: khóa huấn luyện 6 tháng có cấp chứng chỉ; khóa
huấn luyện 12 tháng có cấp văn bằng dành cho những người đã xong đại học; và
nhiều khóa huấn luyện đặc biệt khác (Foote và Mannan, 1996). Tại Pakistan, Hội
Thư Viện Pakistan (Pakistani Library Association -- PLA) đã hoạt động rất tích
cực trong việc phát triển các kỹ năng về thông tin cho hội viên của mình. PLA đã thành lập các trung tâm máy tính tại
Lahore, Karachi, Peshawar và Quetta cho việc huấn luyện các cán bộ thư viện
đang hành nghề cũng như các sinh viên ngành thư viện học. PLA đã hợp tác với
các cơ quan Netherlands Library Development Project trong việc thiết kế và thực
hiện chương trình tựựđộng hóa thư viện (Library Automation and Management
Program -- LAMP) cho Pakistan (Mahmood, 1997).
Tại
Việt Nam, Câu Bộ Thư Viện Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, mặt dù còn là một tổ
chức nhỏ và địa phương, đã có thể cung cấp cho các hội viên những cơ hội phát
triển chuyên môn rất đáng kể. Vào dịp kỷ niệm đệ nhất chu niên, Câu Bộ Thư Viện
đã báo cáo các thành quả như sau: 7 khóa hội thảo hàng quý với các chuyên đề
như tiêu chuẩn hóa công tác kỹ thuật, thiết lập và sử dụng các cơ sở dữ liệu
trực tuyến; 5 khóa tập huấn cho hội viên; về nghiên cứu, 80 báo cáo chuyên đề
đã được đăng vào Bản tin điện tử (sau này đổi tên là Bản tin Câu lạc bộả) về
các vấn đề nóng hổi trong ngành công tác thư viện như vai trò của các thư viện
đại học, khung phân loại Dewey, tiêu đề đề mục, phục vụ người sử dụng thư viện,
thư viện điện tử và Internet, giáo dục chuyên nghiệp, quản lý kiến thức.
v.v.(Tổng kết hai năm hoạt động ..., 2000)
Tại
sao cần phải có một Hội Thư Viện Việt Nam ngay bây giờ?
Việt
Nam hiện đang hướng về một nỗ lực có phối hợp ở cấp quốc gia trong việc phát
triển các cơ sở hạ tầng của hệ thống thông tin/ thư viện cho cả nước. Việc này
rõ ràng là cần phải có sự đóng góp to lớn về chuyên môn của tất cả những người
đang công tác trong lĩnh vực thông tin/ thư viện. Một số những vấn đề trong
việc phát triển hạ tầng cơ sở này đã được nêu ra: đó là việc tiêu chuẩn hóa, và
việc cải tổ chương trình giảng dạy thư viện học (Lâm Vĩnh Thế, 1999). Để giúp
cho ngành công tác thư viện có thể đối phó với những vấn đề cơ bản đó, nhu cầu
cần phải có một hội thư viện quốc gia càng nổi lên hơn bao giờ hết.
Nhu
cầu tiêu chuẩn hóa được cảm nhận trong tất cả các mặt của công tác thư viện.
Trước hết, người ta thấy rõ nhu cầu tiêu chuẩn hóa về từ ngữ. Về phương diện
lịch sử, do việc lãnh thổ kéo dài theo chiều dọc, Việt Nam luôn luôn có những
khác biệt giữa hai miền Nam Bắc. Gần đây, trong khoảng thời gian 1954-1975, đất
nước lại bị chia đôi thành hai thể chế khiến cho những khác biệt càng được tăng
cường. Những người làm công tác trong lĩnh vực thư viện phải đương đầu với hai
hệ thống từ ngữ khác nhau. Tác giả viết bài này, qua hai dự án dịch thuật, đã
có những kinh nghiệm cá nhân về vấn đề này. Hiện chưa có sự thống nhất giữa
những người làm công tác thư viện ở phía Bắc và ở phía Nam về cách dịch một số
từ Anh ngữ đơn giản như "bibliography" và "subject
headings". Ở Miền Bắc, từ "bibliography" được dịch là
"Thư mục", ở Miền Nam, từ này dịch là "Thư tịch".
(Nguyễn Minh Hiệp và những người khác, 1999, tr.196). Ở Miền Bắc, người ta dùng
từ "đề mục chủ đề" để dịch từ "subject headings",
trong khi ở Miền Nam thì dùng từ "tiêu đề đề mục" (Tạ Thị
Thịnh, 2000; Lê Ngọc Oánh, 2000a). Những khác biệt về từ ngữ này là một trở
ngại lớn trong công tác chuyển dịch các giáo trình thư viện học của Tây Phương
sang tiếng Việt. Gần đây tại cuộc họp vào ngày 17/03/2000 tại Hà Nội, các cấp
lãnh đạo ngành thư viện học Việt Nam đã chấp thuận việc chuyển dịch Khung phân
loại thập Dewey sang tiếng Việt (Phạm Thế Khang, 2000). Quyết định này khiến
cho nhu cầu thống nhất từ ngữ ngày càng cấp thiết hơn.
Việt
Nam cũng có nhu cầu tiêu chuẩn hóa và thống nhất quy tắc biên mục dựa trên tiêu
chuẩn mô tả thư tịch quốc tế (ISBD = International Standard Bibliographic
Description) để có thể thực hiện việc kiểm soát thư tịch cho cả nước. Vài năm
trước đây, việc thiếu sót này đã được báo cáo như sau: "In Vietnam the
greatest defects in database development are that data structures are different
and that their attributes are not uniform. There has been no national standard
for cataloguing and classification = Tại Việt Nam, những nhược điểm lớn nhất
trong việc phát triển các cơ sở dữ liệu là: cơ cấu dữ kiện khác nhau và thuộc
tính không đồng nhất. Chưa từng có một tiêu chuẩn quốc gia về biên mục và phân
loại." (Nguyễn Huy Chương, 1998, tr. 333). về mặt biên mục môn loại,
mỗi thư viện sử dụng bảng từ khóa riêng do chính họ tạo ra để mô tả nội dung
của tài liệu, làm cho việc truy tìm xuyên cơ sở dữ liệu không thể thực hiện
được. Việc thiếu tiêu chuẩn hóa này sẽ là một vấn đề nghiêm trọng trong việc
nối mạng về thông tin trong tương lai (Trần Lan Anh và Gorman, G.E., 1999a).
Cũng trong lĩnh vực này, một khuôn thức MARC cho Việt Nam (hiện nay có khuynh
hướng dựa theo MARC 21 thay vì dựa trên UNIMARC như trước đây) cũng là một nhu
cầu cấp thiết để thúc đẩy tiến trình trao đổi thông tin quốc tế. Việc soạn thảo
một bảng tiêu đề đề mục chung cho cả nước cũng đang được bàn thảo giữa những
người làm công tác thư viện ở cả hai miền Nam Bắc (Lâm Vĩnh Thế, 2000; Nguyễn
Cửu Sà, 2000; Tạ Thị Thịnh, 2000). Rõ ràng là một chương trình tiêu chuẩn hóa
là rất cần thiết cho việc phát triển hạ tầng cơ sở của hệ thống thông tin / thư
viện tại Việt Nam. Chỉ có một hội thư viện quốc gia mới có thể động viên được
tài nguyên nhân sự cần thiết cho một chương trình tiêu chuẩn hóa phức tạp như
thế.
Đi song song với chương trình tiêu chuẩn hóa đó, một cuộc cải tổ toàn diện chương trình giảng dạy hiện nay về thông tin / thư viện học cũng đã từng được nhiều cấp lãnh đạo cổ vũ từ nhiều năm qua (Vũ Văn Sơn, 1997; Lê Ngọc Oánh, 2000b; Trần Lan Anh và Gorman, G.E., 1999b). Tất cả đều đề nghị rằng các trường thư viện học cần phải thiết lập các chương trình huấn luyện có khả năng giúp sinh viên tiếp cận được với các vấn đề tin học và quản lý kiến thức nhiều hơn là theo lề lối cổ truyền chỉ chú trọng về các vấn đề thư viện. Một hội thư viện quốc gia sẽ là một tổ chức hợp lý nhất để quy định các tiêu chuẩn về đào tạo mà các trường thư viện học sẽ có thể chấp nhận một cách dễ dàng. Mọi người đều biết rõ là việc chuẩn nhận (accreditation) các trường thư viện học tại Hoa Kỳ từ lâu đã là một chương trình quan trọng của ALA.. Hàng năm, ALA "spends in excess of $100,000 to staff its accreditation effort = chi tiêu trên 100.000 Mỹ kim về nhân sự cho công tác chuẩn nhận." (Summers, 1986, tr. 669).
Để
đối phó với các yêu cầu cấp thiết trong chương trình tiêu chuẩn hóa quốc gia và
việc cải tổ chương trình giảng dạy thư viện học, Việt Nam cần phải có ngay một
hội thư viện quốc gia. Chỉ có một hội đoàn ở cấp quốc gia mới có thể thành công
trong việc động viên toàn thể hội viên trong từng giai đoạn của chương trình
tiêu chuẩn hóa đa diện như thế. Một hội thư viện Việt Nam (HTVVN) như thế sẽ có
thể nghiên cứu và đề ra các tiêu chuẩn cần thiết cho việc xét duyệt lại chương
trình huấn luyện về thư viện học, một bước quan trọng để tiến đến việc chuẩn
nhận các trường thư việc học trong tương lai. HTVVN, thông qua các phân hội và
chi hội, cũng sẽ là một tổ chức lý tưởng để thực hiện các chương trình đào tạo
tại chức cũng như các chương trình giáo dục thường xuyên cho các chuyên viên
thư viện Việt Nam. Toàn bộ hệ thống thư viện của Việt Nam, kể cả những người sử
dụng, tức là nhân dân Việt Nam, sẽ hưởng được những thành quả tốt đẹp của việc
ra đời đúng lúc của một Hội Thư Viện Việt Nam.
1. American Library Association. Trang nhà:
http://www.ala.org/
2. Canadian Library Association. Trang nhà:
http://209.217.90.53/
3. Fayose, P.O. (1997), ''Challenges of
education for library and information work In Nigeria in the twenty-first
century,'' Information Development, vol. 13, no. 2 tr. 70.77.
4.Fisher, W. (1997), ''The value of
professional associations,'' Library Trends, vol. 46, no. 2, tr. 320-330.
5.Foote, J.B. và Mannan, S.M. (1996),
''Librarian training and professional opportunities in Bangladesh,'' Third
World Libraries, vol. 6, no. 2, tr. 11-18.
6.Gupta, S. và Gupta, D.K. (1997),
"Development of library and information
science education in Africa,'' International Information and Library
Review, vol. 29, tr. 95-107. Hovekamp,
T.M. (1997), "Professional associations or unions ? : a comparative
look,'' Library Trends, vol. 46, no. 2, tr. 232-244.
7.IFLA Directory, 2000-2001 (2000),
compiled and edited by IFLA headquarters staff, IFLA, The Hague, tr.107-137.
8.''Lá thư Câu lạc bộ thư viện,'' Bản tin
Câu lạc bộ, số 1/2001.
9.Lâm Vĩnh Thế (1999), "Issues in
library development for Vietnam,'' Asian Libraries, vol. 8, no. 10, tr.
371-379.
10.Lâm Vĩnh Thế (2000), "Góp ý về tiêu
đề đề mục," Bản tin Câu lạc bộ, số 3.
11.Lê Ngọc Oánh (2000a), "Về thuật ngữ
Subject headings," Bản tin Câu lạc bộ, số 10*.
12.Lê Ngọc Oánh (2000b), "Một mô hình
đào tạo ngành Thông tin Thư viện theo hướng chuẩn hóa hội nhập," Bản
tin Câu lạc bộ, số 11.
13.Mahmood, K. (1997), "Information
technology education in Pakistan library schools,'' Journal of Education for
Library and Information Science, vol. 38, no. 3, tr. 200-210.
14.Nguyễn Cửu Sà (2000), "Bàn thêm về
tiêu đề đề mục," Bản tin Câu lạc bộ, số 12.
15.Nguyễn Huy Chương (1998), "Automating
Vietnam's academic libraries : the example of Vietnam National University, '' Asian
Libraries, vol. 7, n1, tr. 333-338.
16.Nguyễn Minh Hiệp và những người khác
(1999), Chọn tiêu đề đề mục cho thư viện. Câu Lạc Bộ Thư Viện,T/P Hồ Chí
Minh, tr. 196.
17.Phạm Thế Khang (2000), "Proceedings
of the Seminar on the Translation of the Dewey Decimal Classification and the
Research on Its Application to the Organization of Library Materials in
Vietnam,'' (có thể truy cập trực tuyến tại URL:
http://www.leaf-vn.org/ddcProceedings.html).
18.Stone,
E.W. (1986), "The growth of continuing education,'' Library Trends,
vol. 34, no. 3, tr. 489-513.
19.Summers, F.W. (1986), "Role of the
Association for Library and Information Science Education in library and
information science education,'' Library Trends, vol. 34, no. 4, tr.
667-677.
20.TạThị Thịnh (2000), "Bàn về Tiêu đề
đề mục hay đề mục chủ đề (subject headings) dùng cho các thư viện," Bản
tin Câu lạc bộ, số 10.
21."Tin trong tháng : Tọa đàm về vấn đề
biên mục tài liệu tiếng Việt hiện nay", Bản tin Câu lạc bộ, số 4/1998.
22."Tổng kết hai năm hoạt động của CLB
Thư Viện", Bản tin Câu lạc bộ,
số 11/2000.
23.Trần Lan Anh và Gorman, G.E. (1999a),
"The implementation of information technology in Vietnamese libraries :
results of a survey,'' Asian Libraries, vol. 8, no. 10, tr. 380-395.
24.Trần Lan Anh và Gorman, G.E. (1999b),
"Library and information science education in Vietnam,'' Asian
Libraries, vol. 8, no. 3, tr. 65-82.
25.UNESCO (1995), Information structure and services in Vietnam : a situational report, UNESCO, Bangkok, tr. 53.
26.Van Maanen, J. và Bailey S. (1984),
"Occupational communities : culture and control in organizations,'' Research
in Organizational Behavior, vol. 6, tr. 287-365.
27.Vũ Văn Sơn (1997), "đổi mới đào tạo
thư viện học và thông tin học nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ quá độ chuyển
sang xã hội thông tin," Tạp chí Thông Tin & Tư Liệu, số.2, tr.
8-11.