LEAF-VN xin cam ơn tac gi Vũ Văn Sơn đó chp thun cho niem yết bài này tren trang Web ca Hi  LEAF-VN, bài này trich dn t địa ch URL

(http://www.vista.gov.vn/Anphamdientu/tapchitrongnuoc/tttl/2002/s3/1/tep3.htm)

***

Qui tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2 và thực tiễn biên mục Việt Nam

Vũ Văn Sơn

            Nêu rõ những đặc điểm chủ yếu và tình hình sử dụng AACR2 tại Hoa Kỳ và một số nưước khác. So sánh một số qui định chủ yếu trong AACR2 với thực tiễn biên mục ở Việt Nam. Đề xuất một số ý kiến nghiên cứu sử dụng AACR2 trong cơ quan thưư viện và thông tin nưước ta.

 

Cuộc hội thảo về "Hệ thống và tiêu chuẩn cho thưư viện Việt Nam", (26-28/ 9 / 2001) do Học viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne (RMIT) tổ chức tại Hà Nội, với sự tham gia của một số lãnh đạo các thưư viện và trung tâm thông tin lớn của ba miền đất nưước nhưư: Trung tâm Thông tin Tưư liệu KHCN Quốc gia, Thưư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Thông tin- Thưư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Thưư viện KHTH TP Hồ Chí Minh, Thưư viện Đại học Cần Thơ, Đại học Đà Nẵng, Đại học Huế,...đã đi đến một trong số các khuyến nghị nhưư sau:

"- Nếu Qui tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2 đưược thông qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hoá- Thông tin Việt Nam nên:

a. Khuyến khích đưưa AACR2 vào chưương trình thưư viện và thông tin học;

b. Tìm nguồn tài trợ để hiệu đính văn bản AACR2 hiện có cho phù hợp với thuật ngữ đưương đại.

Ngoài ra, xu thế biên soạn MARC Việt Nam hiện nay dựa trên MARC 21 là một khổ mẫu có quan hệ chặt chẽ với AACR2 cũng khiến cho nhiều ngưười trong Cộng đồng thông tin-thưư viện Việt Nam quan tâm đến Qui tắc biên mục này.

Nhưư chúng ta đều biết: Các nguyên tắc biên mục Paris (1961) đã là cơ sở để biên soạn các qui tắc mô tả và lập tiêu đề, là một bưước tiến quan trọng tiến tới tiêu chuẩn hoá biên mục trên phạm vi toàn thế giới. Năm 1967, Mỹ và Anh đã hợp tác biên soạn và xuất bản một bộ qui tắc chung gọi tắt theo tiếng Anh là AACR (Anglo-American Cataloguing Rules), còn gọi là AACR1 để phân biệt với AACR2 sau này. Trong những năm về sau, còn có sự tham gia của các đồng nghiệp Canada và úc vào Uỷ ban liên hợp chỉ đạo việc chỉnh lý bộ qui tắc này.

Một đổi mới quan trọng, khác với các qui tắc trưước đây, trong đó có Qui tắc do Hội Thưư viện Mỹ (ALA) biên soạn năm 1949, là nhấn mạnh đến sự ưưu tiên lấy các thông tin trên trang nhan đề để đưưa vào mô tả. Các thông tin trong lời nói đầu, lời giới thiệu và trong chính văn chỉ sử dụng đến khi trang nhan đề không có hay nói không rõ. AACR chú trọng lập tiêu đề theo các loại tên ngưười (tác giả chính, phụ và những ngưười khác tham gia xây dựng tác phẩm, nhân vật), hơn là thể loại. Qui tắc này phân biệt (bản) mô tả chính và mô tả bổ sung, phân biệt hai nh thức trình bày mô tả: theo tác giả và theo nhan đề (dòng treo).

AACR đề cập tới hình thức mô tả với tiêu đề tác giả tập thể là tên gọi thưường dùng của các cơ quan tổ chức và những qui định đối với việc đưưa tên gọi của các cơ quan cấp trên vào tiêu đề.

Xu hưướng hạn chế dùng tên địa danh trong tiêu đề tác giả tập thể cũng thể hiện, tuy nhiên, trong lần xuất bản năm 1974, việc này mới đưược qui định dt khoát.

Nhưược điểm của AACR là còn có nhiều qui định bổ sung và ngoại lệ mang tính chắp vá do phải giải quyết những vưướng mắc trong quá trình áp dụng để dung hoà với thực tiễn biên mục cũ. Chẳng hạn, chỉ những cơ quan tổ chức lần đầu tiên đưược lập tiêu đề, mới theo AACR, nghĩa là, lập tiêu đề trực tiếp theo tên gọi thông dụng của các cơ quan tổ chức đó, chứ không phải thông qua địa danh đặt ở trưước. Nhưư vậy, trong khoảng thời gian từ 1967 đến 1981, hàng ngàn tiêu đề của nhiều thưư viện Mỹ vẫn lập theo kiểu cũ.

Năm 1974, đại diện của các hội thưư viện và các thưư viện quốc gia của Anh, Mỹ và Canađa đã họp lại để bàn về việc soạn thảo một văn bản hoàn toàn mới: Qui tắc AACR2, để khắc phục tình trạng chắp vá nói trên, tạo điều kiện thuận lợi cho ngưười sử dụng mục lục nhanh chóng tìm đưược tưư liệu và cải thiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực biên mục.

Một nguyên nhân quan trọng nữa thúc đẩy sự ra đời của AACR2 là sự cần thiết phải áp dụng Mô tả theo tiêu chuẩn quốc tế ISBD trong biên mục sách, xuất bản phẩm định kỳ cũng như các loại hình tưư liệu và vật mang tin khác.

Mục tiêu của Hội nghị là:

- thống nhất và hợp nhất các văn bản qui tắc của Bắc Mỹ và của Anh xuất bản năm 1967, đồng thời bổ sung những điều khoản đã sửa chữa hoặc thay đổi theo sự thoả thuận chung.

- tạo điều kiện mở rộng sử dụng Qui tắc Anh-Mỹ ra ngoài phạm vi của Bắc Mỹ và Anh.

-  xem xét để đưưa vào Qui tắc Anh-Mỹ (AACR) những kiến nghị của các hội thưư viện Mỹ, Canađa, Thưư viện Quốc hội Mỹ cũng nhưư của các uỷ ban biên mục quốc gia tại các nưước có tham khảo và sử dụng Qui tắc Anh-Mỹ.

AACR2 đưược chính thức xuất bản vào cuối năm 1978, nhưưng đến tháng 1 năm 1981 mới thực sự đưược áp dụng tuơng đối rộng rãi. Và từ đó đã trải qua nhiều lần xuất bản có bổ sung và sửa chữa.

Khác với cách bố cục của các qui tắc biên mục trưước đó, AACR2  trình bày các qui định về mô tả trưước các qui định lựa chọn tiêu đề, bởi vì trình tự này phù hợp với thực tiễn biên mục hiện nay và trong tưương lai tại phần lớn các thưư viện và cơ quan thưư mục. Ngoài ra, nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp các biểu ghi mô tả sách và các loại hình tưư liệu khác trong cùng một thưư mục.

Trong các qui định về tiêu đề mô tả (điểm truy nhập), AACR2 ít nhấn mạnh tới hình thức của bản mô tả chính và bản mô tả phụ và tạo khả năng sử dụng nhiều điểm truy nhập cùng một lúc và cung cấp mô tả thư mục đầy đủ.

Một thay đổi lớn nữa là trong khi chọn mô tả chính, ngưười ta không sử dụng tràn lan tên các cơ quan tổ chức làm "tác giả tập thể" mà chỉ qui định một số trưường hợp mà thôi, còn các trưường hợp khác đưược chuyển sang mô tả bổ sung, nếu cần.

Bỏ phụ tiêu đề thống nhất hình thức "luật", "hiệp ước", "kinh thánh"... cho các tác phẩm pháp lý và tôn giáo. Thay vào đó là sử dụng "nhan đề thống nhất" hoặc "đề mục chủ đề ".

Đối với các tiêu đề tên nguười, thì ưưu tiên sử dụng các tên hay biệt hiệu thông dụng, không đảo tên ngưười trong thành phần của tên gọi các cơ quan tổ chức, giải quyết thống nhất tên các bang của úc, Liên Xô cũ, các hạt (county) của Anh theo kiểu các bang nưước Mỹ.

AACR2  đặt nền tảng cho sự hợp tác biên mục trên phạm vi quốc gia và quốc tế, cải tiến các dịch vụ thưư mục và tiết kiệm đưược giá thành. Do cung cấp một mẫu mô tả thống nhất cho tất cả các loại hìnhư liệu, nên qui tắc này đã tạo khả năng thực hiện mục lục tích hợp đa phưương tiện (multimedia). Ngoài ra, giảm đưược thời gian tìm kiếm tưư liệu cho ngưười sử dụng bằng cách cung cấp những tiêu đề (điểm truy nhập) tưương thích nhiều hơn với những hình thức quen dùng trong sách báo và tham chiếu trích dẫn.

Thưư viện Quốc hội Mỹ đã đi đầu trong việc áp dụng AACR2 và có những đóng góp đáng kể trong việc sửa đổi, hiệu chỉnh qui tắc này.

Ngoài một số ít thưư viện quyết định ngừng mục lục phiếu hiện có và tạo lập mục lục mới với phưương pháp mô tả theo AACR2, còn phần lớn chỉ thay đổi tiêu đề theo qui định mới và làm tham chiếu (chỉ chỗ) qua lại "xem thêm:" cho hệ thống mục lục hiện có.

Năm 1988, AACR2 đã đưược chỉnh biên với tên gọi Qui tắc Anh- Mỹ 2 có chỉnh lý, AACR2 R (Anglo-American Cataloguing Rules 2 Revision).

Một sự thay đổi có ý nghĩa quan trọng là trong cơ cấu nội dung của AACR2 R, phần I, mở đầu, có một chưương chung giới thiệu các điều khoản có thể áp dụng  cho tất cả các loại hình tưư liệu và các tình huống khác nhau dựa theo tinh thần của ISBD (G). Tiếp đó là các chưương riêng phản ánh đặc điểm mô tả của từng loại hình tưư liệu riêng biệt với mức độ qui định chặt chẽ và chi tiết hơn. Thí dụ: Chưương hai: Mô tả sách hay chuyên khảo in; Chưương 5: Nhạc phẩm; Chưương 6 : Tưư liệu ghi âm; Chưương 9: Tệp tin học; Chưương 12: Xuất bản phẩm nhiều kỳ (serials),...

AACR2 R cũng nói rõ trong quá trình mô tả, có khi ngưười biên mục phải tra cứu nhiều chưương. Thí dụ, một xuất bản phẩm nhiều kỳ có thể đưược sản xuất dưưới dạng vi phiếu (microfiche) hay đĩa quang (CD-ROM). Trong tình huống này, họ vừa phải dựa vào các qui định trong chưương mô tả xuất bản phẩm nhiều kỳ, vừa phải tra cứu các chưương qui định về mô tả tưư liệu vi hình hay về các tưư liệu đa phưương tiện (multimedia).

Ngoài ra, AACR2 còn đưưa vào sơ đồ mô tả một khoản thông tin khái quát chung về loại hình tưư liệu gọi là "Định danh chung về loại tưư liệu" (GMD: General Material Designation) đặt trong ngoặc vuông, ngay sau nhan đề chính, ở vùng thứ nhất của mô tả.Thí dụ, Đời sống động vật [ghi hình], mặc dầu vùng mô tả vật thể (vùng đặc trưng số lưượng) cũng có những thông tin về loại hình, nhưưng đó là những thông tin riêng, cụ thể, về vật mang tin của tưư liệu đưược mô tả (Định danh riêng về loại tưư liệu), Thí dụ:  băng hình, phim điện ảnh, đĩa quang,...

Các qui tắc trong AACR2 R thể hiện đưược tính linh hoạt, mềm dẻo với 3 mức độ mô tả chi tiết tuỳ theo nhu cầu của từng nưước hay tầm cỡ của thưư viện sử dụng, nhưưng vẫn đảm bảo theo đúng chuẩn mực quốc tế.

Trong quá trình chuyển đổi mục lục phiếu truyền thống sang mục lục đọc máy và các mục lục truy nhập trực tuyến (on-line), các thưư viện Anh, Mỹ đều xây dựng tiêu đề (điểm truy nhập) theo AACR2 R và có các tham chiếu đối với các hình thức đã dùng trưước đây. Cho đến lần chỉnh biên năm 1988, AACR2 đã đưược áp dụng trong hầu hết các nưước nói tiếng Anh.

            Năm 1997, một cuộc hội nghị quốc tế về các nguyên tắc và sự phát triển tưương lai của AACR2 đã đưược tổ chức tại Toronto, Canada [5]. Hội nghị đã phân tích tính lôgic của các qui tắc nhằm xác định những nguyên tắc làm cơ sở cho những qui tắc ấy để AACR2 đáp ứng được các tiêu chuẩn chính xác, mềm dẻo, thân thiện với ngưười dùng, tưương thích và hiệu quả, với hi vọng biến bộ qui tắc này trở thành một chuẩn quốc tế; đồng thời cũng xem xét lại khái niệm và định nghĩa của xuất bản phẩm nhiều kỳ (serials) trong bối cảnh xuất hiện các nguồn tin điện tử, đặc biệt là các nguồn tin trên mạng. Những ngưười dự Hội nghị cũng đã đề nghị chỉnh sửa Phần I của AACR2 theo sát ISBD hơn nữa, đặc biệt là Chưương 9: Tệp tin học (CF) cần đổi tên là Nguồn tin điện tử (ER) theo đúng tinh thần và nội dung của ISBD (ER). Đã có khuyến nghị sử dụng thuật ngữ "xuất bản phẩm hoặc nguồn còn đang diễn tiến" (on-going publications/resource), bao hàm các dạng tài liệu: xuất bản phẩm nhiều kỳ, tờ rời và cơ sở dữ liệu, thay cho thuật ngữ "xuất bản phẩm nhiều kỳ". Một khuyến nghị nữa rất đáng chú ý nữa là phải cải biên lại điều 0.24 của AACR2 theo tinh thần nhấn mạnh đến nội dung tri thức của tài liệu hơn là vật mang tin cho phù hợp của với phưương châm phát triển nguồn tin hiện nay là kết hợp giữa sở hữu tại chỗ và truy nhập tài liệu từ xa, ở nơi khác. Qui định này (0.24) nói rằng khi mô tả phải trực diện với tài liệu, nghĩa là có tài liệu trong tay, do đó đã làm cho AACR2 không đủ linh hoạt để mô tả các tài liệu luôn luôn thay đổi theo thời gian, là một trong những đặc trưưng chung của các nguồn tin điện tử [5,6]. Có ý kiến nhận định AACR2 đang đứng trưước nguy cơ bị "teo lại" trưước thách đố của sự phát triển siêu dữ liệu (đặc biệt là chuẩn Dublin Core). Tuy nhiên, theo bà Ann Huthwaite, ngưười quản lý các dịch vụ thưư mục của Thưư viện Trưường đại học Queenland (úc) thì tính bất ổn định, không có ranh giới rõ rệt của các nguồn tin trên Internet, vấn đề làm thế nào để tạo lập các biểu ghi mới, giải quyết trưường hợp có rất nhiều phiên bản (version) của cùng một tưư liệu,... cũng là những câu hỏi và thách đố đặt ra đối với những ngưười phát triển siêu dữ liệu. Và cuối cùng thì họ vẫn phải đối mặt với vấn đề kiểm soát tính nhất quán của các tên ngưười và cơ quan tổ chức. Nếu chỉ dựa vào tìm tin theo từ khoá không thôi thì chưưa đủ, vì tiêu chuẩn hoá và tính nhất quán của các điểm truy nhập là những yếu tố rất cơ bản để tìm tin có hiệu quả. Trong mục lục thưư viện, điều này đã đạt đưược thông qua việc áp dụng các qui tắc trong phần II của AACR2. Nếu không áp dụng những qui tắc này thì sự kiểm soát thưư mục sẽ rối loạn. Nhìn chung, có sự tưương ứng giữa AACR2 và các tiêu  chuẩn siêu dữ liệu và các chuẩn này có thể chuyển đổi lẫn nhau. Tuy nhiên, khi AACR2/MARC chuyển đổi sang siêu dữ liệu thì tính chính xác sẽ bị mất đi một cách đáng kể (một số yếu tố không biết đưưa vào đâu). Còn ngưược lại, khi siêu dữ liệu chuyển đổi sang AACR2/MARC thì ngay lập tức nó không thể tạo được một biểu ghi đầy đủ. Phải mất công hiệu đính nội dung, để nó tuân thủ với các tiêu chuẩn của AACR2. Hội nghị đi đến kết luận rằng Cộng đồng thưư viện nên ráng sức ủng hộ sự phát triển tiếp tục của AACR2 và dự kiến năm 1998, chỉnh biên một lần nữa cho phù hợp với những bưước phát triển mới trong lịch sử AACR2. Đến nay, bộ qui tắc này đã được dịch sang 18 thứ tiếng khác và đưược xuất bản đồng thời dưới 2 dạng: ấn phẩm và điện tử. Để hỗ trợ cho AACR2 còn có 2 bản hưướng dẫn mới đưược xuất bản: “Hưướng dẫn mô tả thưư mục cho tưư liệu multimedia tưương tác” và “Hưướng dẫn mô tả thư mục cho các phiên bản" (reproduction).

Trưước năm 1975, AACR đã thâm nhập vào miền Namước ta, nơi đã lưưu hành và sử dụng bản dịch AACR với nhan đề : "Qui tắc tổng kê Anh-Mỹ". Gần đây, năm 2001, các đồng nghiệp Việt Nam ở nưước ngoài, ông Lâm Vĩnh Thế và bà Phạm Thị Lệ Hưương đã hoàn thành bản dịch tiếng Việt của Bộ qui tắc Biên mục Anh Mỹ 2 rút gọn (The Concise AACR2), và Hội hỗ trợ thưư viện và giáo dục Việt Nam ở Hoa Kỳ (LEAF-VN) dự định xuất bản và đưưa về nưước phổ biến trong năm nay, sau khi đã lấy ý kiến góp ý của một số chuyên gia biên mục trong nưước.

            Có thể nói, nhiều qui định trong AACR2 không xa lạ với thực tiễn biên mục Việt Nam vì:

            - Từ những năm 70 của thế kỷ trưước, các qui tắc biên mục trên thế giới nói chung đã đưược chuẩn hoá về số lưượng, thứ tự trình bày và hệ thống dấu phân cách các yếu tố/vùng mô tả theo Tiêu chuẩn mô tả thư mục (ISBD). AACR2, nhưư đã trình bày ở trên, không phải là một ngoại lệ. Trong khi đó, từ năm 1984, qui tắc mô tả thưư mục của các thưư viện Việt Nam hiện hành (đặc biệt là qui tắc của hai thưư viện đầu ngành: Thưư viện Quốc gia Việt Nam và Thưư viện KHKT Trung ưương), ở những mức độ khác nhau, đều đưược biên soạn theo ISBD.

            - Thực tế biên mục Việt Nam, trưước năm 1985 (năm bắt đầu có những bộ qui tắc dựa theo ISBD), chịu ảnh hưưởng rất nhiều của Liên Xô cũ, nơi mà nhiều cán bộ thưư viện Việt Nam đưược đào tạo, nhiều chuyên gia thưư viện Liên xô đưược cử sang Việt Nam hưướng dẫn và giảng dạy về biên mục và đặc biệt là bộ qui tắc "Những qui tắc thống nhất mô tả ấn phẩm" (Edinye pravila dlja proizvedenij pechati) đã là tài liệu cơ bản để dịch và biên soạn các qui tắc mô tả của ta thời bấy giờ. Tuy vậy, các qui tắc mô tả ấn phẩm của Liên Xô cũ lại đưược biên soạn dựa theo truyền thống biên mục Anh-Mỹ (mặc dầu có hạn chế hiện tưượng sử dụng tràn lan tiêu đề tác giả tập thể của Qui tắc Anh Mỹ AACR). Ta thấy rất rõ các dấu ấn của AACR trong "Những qui tắc thống nhất mô tả ấn phẩm" của Liên Xô cũ và các qui tắc mô tả của Thưư viện Quốc gia Việt Nam (Tác giả: Hoàng Đình Dưương) và Thưư viện KHKT Trung ưương (Tác giả: Nguyễn Kim Anh) thời gian này nhưư: sử dụng những qui định về nhan đề đồng nhất (Uniform title) mặc dầu ít dùng trong thực tế, Tác giả tập thể, bản mô tả chính và bản mô tả phụ, mô tả theo nhan đề với hình thức dòng treo (nhan đề bắt đầu từ vạch dọc thứ nhất của tờ phiếu),...

            Những điểm còn có sự khác biệt giữa thực tế biên mục thủ công của Việt Nam hiện nay với AACR2 nhưư sau:

- Từ khi theo ISBD, các thưư viện lớn ở Việt Nam đã không phân biệt mô tả chính (đầy đủ) và mô tả phụ (giản lưược) [2].

- Qui tắc mô tả của Việt Nam không áp dụng hình thức tiêu đề hay điểm truy nhập kết hợp giữa tên tác giả và nhan đề (tác giả/nhan đề) nhưư đã được đề cập tới trong AACR2 (Điều 21.30G).

            - Trong các qui tắc mô tả của Việt Nam (theo ISBD), ở vùng nhan đề và thông tin trách nhiệm, số lưượng các tác giả đưược qui định ghi nhưư sau: Nếu có từ 4 tác giả trở xuống, thì ghi họ tên của tất cả các tác giả ấy; Nếu có từ 5 tác giả trở lên thì chỉ ghi họ tên của 3 tác giả đầu tiên rồi phẩy ... [et al.] [1]. Trong khi đó, theo Điều 1.1F5 của AACR2, thì nếu có trên 3 tác giả thì chỉ ghi tên tác giả đầu tiên và... [et al.].

- Trong Qui tắc mô tả của Việt Nam không đề cập đến Định danh chung về tài liệu [GMD] trong vùng nhan đề và thông tin về trách nhiệm.

- Theo các sách giáo khoa và tài liệu hưướng dẫn sử dụng AACR2 và trên phiếu mục lục của Thưư viện Quốc hội Mỹ, khoản ghi thông tin theo dõi các tiêu đề bổ sung và tham chiếu (tracings) có thêm các tiêu đề (đề mục) chủ đề, đưược đánh thứ tự bằng số ả rập. Còn ở ta, các qui tắc chính thống hầu nhưư không đề cập đến việc ghi tiêu đề (đề mục) chủ đề ở khoản này.

            - Bản AACR2 rút gọn so với bản đầy đủ có giản lưược bớt một số qui định, thí dụ, không dùng các chữ viết tắt [s.l.], [s.n.] trong vùng địa chỉ xuất bản trong trưường hợp không xác định đưược nơi xuất bản và nhà xuất bản, trong khi đó các qui tắc Việt Nam vẫn có những qui định này.

Nhưư vậy, nếu nhưư cần sử dụng qui tắc biên mục AACR2 để điền vào các phiếu nhập tin theo MARC 21, thì rất nhiều các qui định trong các qui tắc biên mục hiện hành của Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị, ta chỉ cần lưưu ý đến một số điểm khác biệt đã nêu ở trên. Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, MARC 21 (mặc dầu được thiết kế theo mô hình phiếu mục lục AACR2) không nhất thiết đòi hỏi phải sử dụng AACR2, nhưư đã thể hiện bằng các mã trong vị trí 18 của đầu biểu (leader) (mã a: sử dụng AACR2; mã i: sử dụng ISBD).

 

Tài liệu tham khảo

 

            1. Giáo trình biên mục mô tả / Vũ Văn Sơn. - Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia, 2000. - 250 tr..

            2. Một số quan niệm và khái niệm về biên mục trong quá trình phát triển / Vũ Văn Sơn // Tạp chí Thông tin & Tưư liệu. - 1998, No 3 . - tr.3-6.

            3. Anglo-American Cataloguing Rules . - 2nd ed., 1988 rev. - Chicago,...: ALA,..., 1988 . - XXV, 677p.

            4. The concise AACR2 . - 1998 revision. - Chicago,...: ALA,..., 1988 . -XV, 168p.

            5. AACR2 and its place in the digital world / Ann Huthwaite . - http://lcweb.loc.gov/catdir/bibcontrol/huthwaite.html

            6. The Anglo-American Cataloguing Rules and their future / R.W. Manning // 64th IFLA General Conference , Amsterdam, 1998 Proceedings . - Paper code number 083-126-E.