LEAF-VN xin cam ơn tac giả Vũ Văn Sơn đó chấp thuận cho niem yết bài này tren trang
Web của Hội LEAF-VN, bài này trich dẫn từ địa chỉ URL
(http://www.vista.gov.vn/Anphamdientu/tapchitrongnuoc/tttl/2002/s3/1/tep3.htm)
***
Qui tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2 và thực tiễn biên mục Việt Nam
Vũ Văn
Sơn
Nêu rõ
những đặc điểm chủ yếu và tình hình sử dụng AACR2 tại
Hoa Kỳ và một số nưước khác.
So sánh một số qui định chủ yếu trong AACR2 với thực tiễn
biên mục ở Việt
Cuộc hội
thảo về "Hệ thống và tiêu chuẩn cho thưư viện Việt Nam", (26-28/ 9 / 2001) do Học viện Công
nghệ Hoàng gia Melbourne (RMIT) tổ chức tại Hà Nội, với sự tham gia của một số
lãnh đạo các thưư viện và
trung tâm thông tin lớn của ba miền đất nưước nhưư: Trung tâm Thông tin Tưư liệu KHCN Quốc gia, Thưư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm
Thông tin- Thưư viện
Đại học Quốc gia Hà Nội, Thưư viện
KHTH TP Hồ Chí Minh, Thưư viện
Đại học Cần Thơ, Đại học Đà Nẵng, Đại học Huế,...đã đi đến một trong số các
khuyến nghị nhưư sau:
"-
Nếu Qui tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2 đưược thông qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hoá- Thông tin
Việt
a. Khuyến
khích đưưa AACR2
vào chưương trình thưư viện và
thông tin học;
b. Tìm
nguồn tài trợ để hiệu đính văn bản AACR2 hiện có cho phù hợp với thuật ngữ đưương đại.
Ngoài ra,
xu thế biên soạn MARC Việt Nam hiện nay dựa trên MARC 21 là một khổ mẫu có quan
hệ chặt chẽ với AACR2 cũng khiến cho nhiều ngưười trong Cộng đồng thông tin-thưư viện Việt Nam quan tâm đến Qui tắc
biên mục này.
Nhưư chúng ta đều biết: Các nguyên tắc
biên mục
Một đổi
mới quan trọng, khác với các qui tắc trưước đây,
trong đó có Qui tắc do Hội Thưư viện Mỹ
(ALA) biên soạn năm 1949, là nhấn mạnh đến sự ưưu tiên lấy các thông tin trên trang nhan đề để đưưa vào mô tả. Các thông
tin trong lời nói đầu, lời giới thiệu và trong chính văn chỉ sử dụng đến khi
trang nhan đề không có hay nói không rõ. AACR chú trọng lập tiêu đề theo các loại tên ngưười (tác
giả chính, phụ và những ngưười khác
tham gia xây dựng tác phẩm, nhân vật), hơn là thể loại. Qui tắc này phân biệt
(bản) mô tả chính và mô tả bổ sung, phân biệt hai hình thức trình bày mô tả: theo tác giả và theo nhan đề (dòng
treo).
AACR đề
cập tới hình thức mô tả với tiêu đề tác giả tập thể là
tên gọi thưường dùng
của các cơ quan tổ chức và những qui định đối với việc đưưa tên gọi của các cơ quan cấp trên vào
tiêu đề.
Xu
hưướng hạn chế dùng tên địa
danh trong tiêu đề tác giả tập thể cũng thể hiện, tuy nhiên, trong lần xuất bản
năm 1974, việc này mới đưược qui
định dứt khoát.
Nhưược điểm của AACR là còn có nhiều qui
định bổ sung và ngoại lệ mang tính chắp vá do phải giải quyết những vưướng mắc trong quá trình
áp dụng để dung hoà với thực tiễn biên mục cũ. Chẳng hạn, chỉ những cơ quan tổ
chức lần đầu tiên đưược lập
tiêu đề, mới theo AACR, nghĩa là, lập tiêu đề trực
tiếp theo tên gọi thông dụng của các cơ quan tổ chức đó, chứ không phải thông
qua địa danh đặt ở trưước. Nhưư vậy, trong khoảng thời gian từ 1967
đến 1981, hàng ngàn tiêu đề của nhiều thưư viện Mỹ vẫn lập theo kiểu cũ.
Năm 1974,
đại diện của các hội thưư viện và
các thưư viện
quốc gia của Anh, Mỹ và Canađa đã họp lại để bàn về việc soạn thảo một văn bản
hoàn toàn mới: Qui tắc AACR2, để khắc phục tình trạng chắp vá nói trên, tạo
điều kiện thuận lợi cho ngưười sử
dụng mục lục nhanh chóng tìm đưược tưư liệu và cải thiện hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực biên mục.
Một
nguyên nhân quan trọng nữa thúc đẩy sự ra đời của AACR2
là sự cần thiết phải áp dụng Mô tả theo tiêu chuẩn quốc tế ISBD trong biên mục
sách, xuất bản phẩm định kỳ cũng như các loại hình tưư liệu và vật mang tin khác.
Mục tiêu
của Hội nghị là:
- thống nhất và hợp nhất các văn bản qui tắc của Bắc Mỹ và của
Anh xuất bản năm 1967, đồng thời bổ sung những điều khoản đã sửa chữa hoặc thay
đổi theo sự thoả thuận chung.
- tạo
điều kiện mở rộng sử dụng Qui tắc Anh-Mỹ ra ngoài phạm vi
của Bắc Mỹ và Anh.
- xem xét để đưưa vào
Qui tắc Anh-Mỹ (AACR) những kiến nghị của các hội thưư viện Mỹ, Canađa, Thưư viện Quốc hội Mỹ cũng nhưư của các uỷ ban biên mục quốc gia tại
các nưước có
tham khảo và sử dụng Qui tắc Anh-Mỹ.
AACR2 đưược chính thức xuất bản vào cuối năm
1978, nhưưng đến
tháng 1 năm 1981 mới thực sự đưược áp
dụng tuơng đối rộng rãi. Và từ đó đã trải qua nhiều lần xuất
bản có bổ sung và sửa chữa.
Khác với
cách bố cục của các qui tắc biên mục trưước đó,
AACR2 trình bày
các qui định về mô tả trưước các
qui định lựa chọn tiêu đề, bởi vì trình tự này phù hợp với thực tiễn biên mục
hiện nay và trong tưương lai
tại phần lớn các thưư viện và
cơ quan thưư mục.
Ngoài ra, nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp các biểu ghi mô tả
sách và các loại hình tưư liệu khác trong cùng một thưư mục.
Trong các
qui định về tiêu đề mô tả (điểm truy nhập), AACR2 ít nhấn mạnh tới hình thức của bản mô tả chính và bản mô tả phụ và tạo khả năng
sử dụng nhiều điểm truy nhập cùng một lúc và cung cấp mô tả thư mục đầy đủ.
Một thay
đổi lớn nữa là trong khi chọn mô tả chính, ngưười ta không sử dụng tràn lan tên các cơ quan tổ chức làm
"tác giả tập thể" mà chỉ qui định một số trưường hợp mà thôi, còn các trưường hợp khác đưược chuyển sang mô tả bổ sung, nếu cần.
Bỏ phụ
tiêu đề thống nhất hình thức "luật", "hiệp ước", "kinh
thánh"... cho các tác phẩm pháp lý và tôn giáo. Thay vào đó là sử dụng
"nhan đề thống nhất" hoặc "đề mục chủ đề ".
Đối với
các tiêu đề tên nguười, thì ưưu tiên sử
dụng các tên hay biệt hiệu thông dụng, không đảo tên ngưười trong thành phần của tên gọi các cơ
quan tổ chức, giải quyết thống nhất tên các bang của úc, Liên Xô cũ, các hạt
(county) của Anh theo kiểu các bang nưước Mỹ.
AACR2 đặt nền tảng cho sự hợp tác biên mục
trên phạm vi quốc gia và quốc tế, cải tiến các dịch vụ thưư mục và tiết kiệm đưược giá thành. Do cung cấp một mẫu mô
tả thống nhất cho tất cả các loại hình tưư liệu, nên qui tắc này đã tạo khả năng
thực hiện mục lục tích hợp đa phưương tiện
(multimedia). Ngoài ra, giảm đưược thời
gian tìm kiếm tưư liệu
cho ngưười sử
dụng bằng cách cung cấp những tiêu đề (điểm truy nhập) tưương thích nhiều hơn với những hình thức quen dùng trong sách báo và tham chiếu trích dẫn.
Thưư viện Quốc hội Mỹ đã đi đầu trong việc
áp dụng AACR2 và có những đóng góp đáng kể trong việc sửa đổi, hiệu chỉnh qui
tắc này.
Ngoài một
số ít thưư viện
quyết định ngừng mục lục phiếu hiện có và tạo lập mục lục mới với phưương pháp mô tả theo AACR2, còn phần lớn
chỉ thay đổi tiêu đề theo qui định mới và làm tham chiếu (chỉ chỗ) qua lại
"xem thêm:" cho hệ thống mục lục hiện có.
Năm
1988, AACR2 đã đưược chỉnh biên với tên gọi Qui tắc Anh- Mỹ 2 có chỉnh lý,
AACR2 R (Anglo-American Cataloguing Rules 2 Revision).
Một sự
thay đổi có ý nghĩa quan trọng là trong cơ cấu nội dung của AACR2 R, phần I, mở
đầu, có một chưương
chung giới thiệu các điều khoản có thể áp dụng cho tất cả
các loại hình tưư liệu và các tình huống khác nhau dựa theo tinh thần của
ISBD (G). Tiếp đó là các chưương riêng phản ánh đặc điểm mô tả của từng loại hình tưư liệu
riêng biệt với mức độ qui định chặt chẽ và chi tiết hơn. Thí dụ: Chưương hai:
Mô tả sách hay chuyên khảo in; Chưương 5: Nhạc phẩm; Chưương 6 : Tưư liệu ghi âm; Chưương 9: Tệp tin học; Chưương 12:
Xuất bản phẩm nhiều kỳ (serials),...
AACR2 R
cũng nói rõ trong quá trình mô tả, có khi ngưười biên
mục phải tra cứu nhiều chưương. Thí dụ, một xuất bản phẩm nhiều kỳ có thể đưược sản
xuất dưưới dạng vi phiếu (microfiche) hay đĩa quang (CD-ROM). Trong tình huống này, họ vừa phải dựa vào các qui định trong chưương mô
tả xuất bản phẩm nhiều kỳ, vừa phải tra cứu các chưương qui
định về mô tả tưư liệu vi hình hay về các tưư liệu đa phưương tiện
(multimedia).
Ngoài ra,
AACR2 còn đưưa vào sơ
đồ mô tả một khoản thông tin khái quát chung về loại hình tưư liệu
gọi là "Định danh chung về loại tưư liệu" (GMD: General Material
Designation) đặt trong ngoặc vuông, ngay sau nhan đề chính, ở vùng thứ nhất của
mô tả.Thí dụ, Đời sống động vật [ghi hình], mặc dầu vùng mô tả vật thể (vùng
đặc trưng số lưượng) cũng có những thông tin về loại hình, nhưưng đó là
những thông tin riêng, cụ thể, về vật mang tin của tưư liệu đưược mô tả
(Định danh riêng về loại tưư liệu), Thí dụ: băng
hình, phim điện ảnh, đĩa quang,...
Các qui
tắc trong AACR2 R thể hiện đưược tính linh hoạt, mềm dẻo với 3 mức độ mô tả chi tiết tuỳ theo nhu cầu của từng nưước hay tầm cỡ của thưư viện sử
dụng, nhưưng vẫn
đảm bảo theo đúng chuẩn mực quốc tế.
Trong quá
trình chuyển đổi mục lục phiếu truyền thống sang mục lục đọc máy và các mục lục
truy nhập trực tuyến (on-line), các thưư viện Anh, Mỹ đều xây dựng tiêu đề
(điểm truy nhập) theo AACR2 R và có các tham chiếu đối với các hình thức đã
dùng trưước đây.
Cho đến lần chỉnh biên năm 1988, AACR2 đã đưược áp dụng trong hầu hết
các nưước nói
tiếng Anh.
Năm 1997, một cuộc hội nghị quốc tế về các nguyên tắc và sự phát
triển tưương
lai của AACR2 đã đưược
tổ chức tại
Trưước năm
1975, AACR đã thâm nhập vào miền
Có thể
nói, nhiều qui định trong AACR2 không xa lạ với thực tiễn biên mục Việt
- Từ
những năm 70 của thế kỷ trưước, các qui tắc biên mục trên thế giới nói chung đã đưược chuẩn hoá về số lưượng, thứ tự trình bày và hệ thống dấu
phân cách các yếu tố/vùng mô tả theo Tiêu chuẩn mô tả thư mục (ISBD). AACR2, nhưư đã trình bày ở trên, không phải là một ngoại lệ. Trong khi đó,
từ năm 1984, qui tắc mô tả thưư mục của các thưư viện Việt Nam hiện hành (đặc biệt là
qui tắc của hai thưư viện đầu ngành: Thưư viện Quốc gia Việt Nam và Thưư viện
KHKT Trung ưương), ở
những mức độ khác nhau, đều đưược biên soạn theo ISBD.
- Thực
tế biên mục Việt Nam, trưước năm 1985 (năm bắt đầu có những bộ qui tắc dựa theo ISBD),
chịu ảnh hưưởng rất
nhiều của Liên Xô cũ, nơi mà nhiều cán bộ thưư viện Việt Nam đưược đào
tạo, nhiều chuyên gia thưư viện Liên xô đưược cử sang Việt Nam hưướng dẫn
và giảng dạy về biên mục và đặc biệt là bộ qui tắc "Những qui tắc thống
nhất mô tả ấn phẩm" (Edinye pravila dlja proizvedenij pechati) đã là tài
liệu cơ bản để dịch và biên soạn các qui tắc mô tả của ta thời bấy giờ. Tuy
vậy, các qui tắc mô tả ấn phẩm của Liên Xô cũ lại đưược biên
soạn dựa theo truyền thống biên mục Anh-Mỹ (mặc dầu có
hạn chế hiện tưượng sử
dụng tràn lan tiêu đề tác giả tập thể của Qui tắc Anh Mỹ AACR). Ta thấy rất rõ
các dấu ấn của AACR trong "Những qui tắc thống nhất mô tả ấn phẩm"
của Liên Xô cũ và các qui tắc mô tả của Thưư viện Quốc gia Việt Nam (Tác giả:
Hoàng Đình Dưương) và
Thưư viện
KHKT Trung ưương (Tác
giả: Nguyễn Kim Anh) thời gian này nhưư: sử dụng những qui định về nhan đề
đồng nhất (Uniform title) mặc dầu ít dùng trong thực tế, Tác giả tập thể, bản
mô tả chính và bản mô tả phụ, mô tả theo nhan đề với hình thức dòng treo (nhan
đề bắt đầu từ vạch dọc thứ nhất của tờ phiếu),...
Những
điểm còn có sự khác biệt giữa thực tế biên mục thủ công của Việt
- Từ khi theo ISBD, các thưư viện lớn ở Việt Nam đã không phân biệt
mô tả chính (đầy đủ) và mô tả phụ (giản lưược) [2].
- Qui tắc
mô tả của Việt
- Trong
các qui tắc mô tả của Việt Nam (theo ISBD), ở vùng nhan đề và thông tin trách
nhiệm, số lưượng các
tác giả đưược qui
định ghi nhưư sau:
Nếu có từ 4 tác giả trở xuống, thì ghi họ tên của tất cả các tác giả ấy; Nếu có
từ 5 tác giả trở lên thì chỉ ghi họ tên của 3 tác giả đầu tiên rồi phẩy ... [et
al.] [1]. Trong khi đó, theo Điều 1.1F5 của AACR2, thì
nếu có trên 3 tác giả thì chỉ ghi tên tác giả đầu tiên và... [et al.].
- Trong
Qui tắc mô tả của Việt
- Theo
các sách giáo khoa và tài liệu hưướng dẫn
sử dụng AACR2 và trên phiếu mục lục của Thưư viện
Quốc hội Mỹ, khoản ghi thông tin theo dõi các tiêu đề bổ sung và tham chiếu
(tracings) có thêm các tiêu đề (đề mục) chủ đề, đưược đánh thứ tự bằng số ả rập. Còn ở ta, các qui tắc chính thống hầu nhưư không đề cập đến việc ghi tiêu đề (đề mục) chủ đề ở khoản
này.
- Bản AACR2 rút gọn so với bản đầy đủ có giản lưược bớt một số qui định, thí dụ, không dùng các chữ viết tắt
[s.l.], [s.n.] trong vùng địa chỉ xuất bản trong trưường hợp không xác định đưược nơi xuất bản và nhà xuất bản, trong
khi đó các qui tắc Việt Nam vẫn có những qui định này.
Nhưư vậy, nếu nhưư cần sử dụng qui tắc biên mục AACR2 để
điền vào các phiếu nhập tin theo MARC 21, thì rất nhiều các qui định trong các
qui tắc biên mục hiện hành của Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị, ta chỉ cần lưưu ý đến một số điểm khác biệt đã nêu ở
trên. Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, MARC 21 (mặc dầu được thiết kế theo mô hình
phiếu mục lục AACR2) không nhất thiết đòi hỏi phải sử dụng AACR2, nhưư đã thể hiện bằng các mã trong vị trí
18 của đầu biểu (leader) (mã a: sử dụng AACR2; mã i: sử dụng ISBD).
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình
biên mục mô tả / Vũ Văn Sơn. - Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia, 2000. -
250 tr..
2. Một số quan niệm và khái niệm về biên mục trong quá trình
phát triển / Vũ Văn Sơn // Tạp chí
Thông tin & Tưư
liệu. - 1998, No 3 . - tr.3-6.
3. Anglo-American Cataloguing Rules . - 2nd ed., 1988 rev. -
4. The concise AACR2
.
- 1998 revision. -
5. AACR2 and its place in the digital
world / Ann Huthwaite . -
http://lcweb.loc.gov/catdir/bibcontrol/huthwaite.html
6. The Anglo-American Cataloguing
Rules and their future / R.W. Manning // 64th IFLA General Conference ,